Phương pháp học tập có hiệu quả [Học tập hiệu quả]



Trong quá trình học tập, học sinh thường rơi vào một trong những rắc rối sau: Thứ nhất, không thể áp dụng tính năng động của bản thân vào những trường hợp vô cùng đơn giản, hay nói một cách khác, đây là tuýp người luôn quan trọng hóa vấn đề, biến cái đơn giản nhất thành cái khó nhất và ngược lại, một vấn đề khó ư? Chuyện nhỏ, đối với họ chẳng là gì. Kiểu thứ hai là mẫu người luôn tự đẩy mình vào tình trạng không biết phải phân bố thời gian thế nào cho hợp lý để có thể học hết khối lượng kiến thức dày đặc. Và cả kiểu thứ ba, thứ tư... nữa chứ. Nhưng thôi hãy tạm quên chúng đi, sau đây là phương pháp học sao cho có hiệu quả. 

Phương pháp này có thể chia làm ba giai đoạn như sau: 


1. Giai đoạn thứ nhất: Trước khi học

Nhận thức ở đây có nghĩa là phải hiểu được yêu cầu mà quá trình học đòi hỏi. Tiếp theo bạn phải biết quản lý những đặc điểm tính cách của bạn. Giả sử bạn là một người nóng tính, khi đã ngồi rất lâu rồi mà bạn vẫn chưa tìm ra cách giải của một bài toán khó đột nhiên bạn thấy bực mình vô cớ và không muốn họcn nữa, hãy tìm cách để kiểm soát cơn giận đó. Có thể chỉ dùng một biện pháp đơn giản như: trước khi học, bạn hãy viết lên một mảnh giấy nhỏ dòng chữ "Tức giận chẳng giải quyết được vấn đề gì" để trước mặt, mỗi lần bạn thấy bực tức hãy nhìn vào mảnh giấy đó, thư giãn một vài phút sau đó lại bắt tay làm lai từ đầu để tìm ra được vướng mẳc của bài toán... Bước tiếp theo là lên kế hoạch, hãy phân chia thời gian cụ thể để học từng môn một.

Ví dụ như bạn quy định trong buổi chiều nay bạn sẽ phải học được hai môn đó là: Toán, Lý và bạn đặt kế hoạch cho mình là phải học trong vòng ba tiếng từ 2 giờ - 5 giờ. Như vậy không có nghĩa là bạn sẽ chia đều ra mỗi môn hoc trong khoảng thời gian là một tiếng rưỡi mà trước khi lên kế hoạch bạn hãy giành chút thời gian để ước lượng xem môn nào có số lượng kiến thức nhiều hơn rồi từ đó phân bố thời gian học sao cho hợp lý. Tốt nhất là bạn hãy bắt đầu học từ môn nào mà bạn ưa thích hơn để tạo cho mình niềm say mê học tập.

2. Giai đoạn thứ hai: Trong quá trình học

Tính linh động trong việc đưa ra những lựa chọn đúng đắn là rất cần thiết trong giai đoạn này. Hãy thử hình dung thế này nhé:

Bạn đang cần chứng minh một bài toán nhưng để chứng minh được nó bạn cần áp dụng một bất đẳng thức A nào đó. Tuy bất đẳng thức này thường được dùng nhưng khi phải chứng minh bạn đột nhiên lại chẳng nhớ phải chứng minh thế nào, lúc này bạn sẽ phải đặt mình trước hai sự lựa chọn.

+ Thứ nhất: không cần chứng minh cứ thế làm tiếp để dành thời gian còn học các môn khác. 

+ Thứ hai: là cố gắng lục lọi lại cách chứng minh bất đăng thức đó trong chồng sách vở cũ dù mất khá nhiều thời gian. 

Bạn chọn cách nào đây, tất nhiên trong phương pháp này, bạn sẽ phải chọn cách hai nếu như bạn không muốn rơi vào hoàn cảnh một ngày kia bạn gặp lại bài toán này trong một bài kiểm tra. Bạn có muốn mình sẽ bị trừ điểm chỉ vì trong bài tọán có dòng chữ áp dụng bất đẳng thức A mà lại chẳng có nổi phần chứng minh bất đẳng thức A hay không?

3. Giai đoạn thứ 3: Sau khi học xong

Trong giai đoạn cuối cùng này bạn hãy tự thực hiện môt "cuộc càn quét" lại những gì mà bạn đã học được. Chẳng hạn bạn có thể ghi lại vào một mảnh giấy cách chứng minh bất đẳng thức A (nêu trên) hay những công thức, định lý... mà bạn vừa học xong hoặc làm riêng cho mỗi bộ môn một quyển sổ nhỏ. Ðây sẽ chính là quyển sổ tóm tắt lý thuyết của riêng bạn. Với cách này bạn sẽ nhớ lâu hơn những gì mà mình đã học được và cũng sẽ dễ dàng hơn nếu chẳng may bạn lại quên cách chứng minh bất đẳng thức A một lần nữa. Bạn sẽ không còn phải mất nhiều thời gian để lục tìm lại đống sách vở cũ nữa đâu.


(Theo Hoa Học Trò)

Quan điểm về giáo dục của Phật giáo [Phật giáo và Giáo dục]


Đức Phật là nhà tư tưởng, nhà cách mạng xã hội, đồng thời Ngài cũng là nhà sư phạm vĩ đại. Trong 49 năm trụ thế, bằng “thân giáo” (việc làm), “khẩu giáo” (thuyết giảng) và “ý giáo” (tư tưởng) của mình không ngoài mục đích chỉ ra con đường, biện pháp để chúng sinh đạt được mục tiêu tối hậu là GIÁC NGỘ - GIẢI THOÁT.



Giáo dục nói chung là môt loại hình sản xuất đặc biệt trong các loại hình sản xuất xã hội, bởi vì, “nguyên liệu” đầu vào của nó là con người, qui trình sản xuất của nó kéo dài trong cả một đời người, công nghệ sản xuất rất đặc biệt (tính ổn định rất tương đối, môi trường sản xuất đa dạng, công cụ sản xuất là con người/thầy giáo … ), và sản phẩm làm ra c ũng chính là con người. Có thể nói, giáo dục đã tạo ra, và gương mặt của nó cũng là biểu hiện rõ nét nhất, nền văn hoá văn minh của mỗi quốc gia, xứ sở.

Trải qua trên 2500 năm tồn tại và phát triển, Phật giáo đã góp phần tạo nên diện mạo đa dạng của văn hoá văn minh thế giới, và, văn hoá - văn minh Phật giáo xứng đáng được coi là nền tảng vững chắc và định hướng cho tương lại của văn hoá - văn minh nhân loại. Nhân dịp Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam chuẩn bị tổ chức Hội thảo khoa học về Giáo dục Phật giáo Việt Nam vào hạ tuần tháng 11 năm 2011, từ góc nhìn về Giáo dục và Giáo dục học, chúng tôi bàn về một số quan điểm về giáo dục của Phật giáo, mong nhận được sự trao đổi, chia sẻ trên diễn đàn của Tạp chí.

1. Về mục tiêu giáo dục

Đức Phật là nhà tư tưởng,  nhà cách mạng xã hội, đồng thời Ngài cũng là nhà sư phạm vĩ đại. Trong 49 năm trụ thế, bằng “thân giáo” (việc làm), “khẩu giáo” (thuyết giảng) và “ý giáo” (tư tưởng) của mình không ngoài mục đích chỉ ra con đường, biện pháp để chúng sinh đạt được mục tiêu tối hậu là GIÁC NGỘ - GIẢI THOÁT.

Để đạt được mục tiêu tối hậu đó, từ thấp đến cao, giáo dục Phật giáo chia làm ba tầng: Giáo dục làm Người, giáo dục làm Tăng, giáo dục làm Phật. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới mục tiêu giáo dục Phật giáo ở tầng thứ nhất, tức là giáo dục để làm Người. Tuy nhiên, cũng theo quan điểm Phật giáo, quá trình rèn luyện tu dưỡng “con người” trở thành “NGƯỜI viết hoa” đúng nghĩa của nó thì cũng tức là đã thành  Phật, như ngài Thái Hư (1889 - 1947) đã nói: “Nhân thành tức Phật thành”.

Như vậy, dù ở cấp học nào, yêu cầu đối với sản phẩm của giáo dục Phật giáo phải là con người có sự phát triển toàn diện, tức là phải hiểu biết bên trong chính nó và hiểu biết bên ngoài về đời sống xã hội, về những tri thức khoa học. Nếu như giáo dục Thế học thiên về mục tiêu đào tạo ra những con người có năng lực nắm bắt được qui luật của xã hội, khám phá, khai thác tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân và cao cả hơn là phục vụ cộng đồng, nhân l oại … thì giáo dục Phật giáo đặt vấn đề chủ yếu và trước hết nơi chính nội tâm cá nhân con người. Muốn trở thành một con người xã hội tốt trước hết phải là một con người cá nhân tốt. Mục tiêu của giáo dục Phật giáo là có được những con người: tự biết về chính mình, dám chịu trách nhiệm cá nhân, tự tin nỗ lực, biết tự kiềm chế và dám chấp nhận. Tuỳ cấp độ nông sâu cao thấp khác nhau nhưng đó là những phẩm chất mà con người luôn luôn phải có, phải tự thức tỉnh, để tự giúp mình (tự độ) rồi giúp người (độ tha), trên con đường tới GIÁC NGỘ - GIẢI THOÁT - THÀNH PHẬT.

2. Đối tượng của giáo dục

Cũng như Thế học, Phật giáo lấy con người làm trung tâm của giáo dục, bởi vì, chỉ có con người mới có văn hoá, tức là có nhu cầu và khả năng giáo dục - tiếp thu giáo dục. Giáo dục Phật giáo nhằm khơi dậy, định hướng và khích lệ mỗi cá nhân phát triển trên ba phương diện: trí tuệ, tình thức, và thể chất. Giáo dục Phật giáo đặc biệt chú ý tới trí tuệ (Wisdom) chứ không phải chỉ dừng ở kiến thức (Knowledge) và tình thức (tức là cái năng lực xúc cảm, tâm linh) của mỗi cá nhân.

Quá trình giáo dục chính là đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học Phật giáo. Đó là quá trình tương tác giữa chủ thể giáo dục (thầy) và đối tượng giáo dục (trò), là hai mặt của một vấn đề (giáo dục) không thể tách rời. Do vậy, giáo dục Phật giáo cũng đặc biệt coi trọng vai trò của người thầy trong quá trình giáo dục. Trong Qui môn cảnh sách có nói: “Khởi bất kiến ỷ tùng chi cát, thượng tủng thiên tầm. Phụ thác thắng nhân, phương năng quảng ích” (Há chẳng thấy dây sắn kia, vì nhờ vào cây tùng mà leo lên cao được nghìn thước. Cũng vậy, phải dựa vào sự chỉ bảo hướng dẫn của người hơn mình mới có được lợi ích lớn).

3. Quan điểm giáo dục

Trước hết là quan điểm của Phật giáo về phương pháp giáo dục. Hiểu một cách giản đơn, phương pháp giáo dục cách thức, thao tác, qui trình mà chủ thể giáo dục tác động vào đối tượng giáo dục nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đã đặt ra.

Như trên đã nói, giáo dục là công nghệ sản xuất đặc biệt, bởi từ “nguyên liệu” đầu vào, “công cụ” chủ yếu trong quá trình sản xuất cho tới “sản phẩm” làm ra đều là con người. Do vậy, vấn đề quan trọng ở đây là việc đánh giá về bản chất của con người từ góc độ giáo dục. Ở đây chúng tôi chỉ nêu lên những đánh giá của các trường phái tư tưởng lớn ở Phương Đông về bản chất con người, trong so sánh với Phật giáo, để từ đó có cái nhìn (quan điểm) riêng về giáo dục và phương pháp giáo dục Phật giáo.

- Nho gia cho rằng “Nhân chi sơ, tính bản thiện. Tính tương cận, tập tương viễn” (Con người khi mới sinh ra vốn là thiện. Cái bản tính ban đầu ấy mọi người đều giống nhau, nhưng do tập quán, môi trường khiến cho có sự khác nhau/ có người thiện, có người bất thiện). Do vậy, họ chủ trương giáo dục là tìm về, khơi dậy, và bồi dưỡng cái bản chất “thiện” vốn có ban đầu ấy (Học đạo vô tha, cầu kì phóng tâm nhi dĩ hĩ! - Việc học không gì khác ngoài việc đi tìm cái bản tâm thiện đã mất!).

- Pháp gia lại khẳng định từ khi mới sinh ra, bản chất con người là ác (Nhân chi sư tính bản ác), là tham lam vụ lợi. Do vậy, phải dùng chế tài của pháp luật để giáo dục, ngăn ngừa điều ác, tính quấy của con người.

- Đạo gia thì cho rằng bản chất của con người là hồn nhiên vô tư như tờ giấy trắng (Xích tử chi tâm), nhưng do học tập, sách vở … khiến cho bị điên đảo, sinh ra tranh cãi thị - phi không dứt (Phật giáo gọi là “Sở tri chướng” - cái chướng ngại do sự “hiểu biết” một cách không đúng đắn do kiến thức đưa lại). Do vậy, cách “giáo dục” tốt nhất là “vứt bỏ giáo dục”, để con người trở lại cái hồn nhiên chất phác ban đầu.

- Với thuyết Nhân duyên - nghiệp báo luận, Phật giáo cho rằng bản chất con người không phải là thiện hay bất thiện hoặc hồn nhiên bất định mà , xét về mặt tinh thần, nó là sản phẩm (quả) của nghiệp nhân từ đời trước. Cái mà Nho gia gọi là “tính” thì Phật gia gọi là “chủng tử”/hạt giống, là “nghiệp bản hữu” ... Điều khác nhau căn bản là: cái “tính” của Nho gia là do trời sinh ra (thiên sinh chi vị tính), vốn là thiện; còn “chủng tử”, “nghiệp” theo Phật giáo lại là do chính mình tạo ra, trong đó có cả thiện và bất thiện. Do vậy, bản chất của giáo dục Phật giáo là tìm con đường, biện pháp nhằm đưa lại cho con người niềm tin, trí tuệ để nhận chân chính mình, để hạn chế đi đến diệt trừ cái nhân bất thiện, bồi dưỡng tăng trưởng nhân thiện vốn có và tạo nhiều nhân thiện trong đời sống hiện tại (nghiệp/chủng tử tân huân), tức là tạo nên một “nhân”/”nghiệp” tốt cho “quả” ở thời vị lai trên con đường GIÁC NGỘ - GIẢI THOÁT.

Từ những nhận định về bản chất con người như vậy, Giáo dục Phât giáo đã đưa ra một hệ thống những quan điểm về phương pháp giáo dục, thích ứng với đối tượng, nhằm đạt tới mục tiêu đã đặt ra.

Thứ nhất, quan điểm  giáo dục trên tinh thần “khế cơ”.

Dù ở cùng một cấp giáo dục thì đối tượng giáo dục cũng có rất nhiều sự khác nhau: có trình độ, phẩm hạnh, điều kiện hoàn cảnh, sở thích, chí hướng … khác nhau. Do vậy suy đến cùng, giáo dục là giáo dục cá nhân chứ không phải là giáo dục tập thể (mặc dù mục đích là để mọi mgười cùng đạt đến một mục tiêu). Phải tuỳ theo đối tượng cụ thể mà có phương pháp cụ thể. Xét từ góc độ giáo dục, thuật ngữ Phật giáo nói đến tám vạn bốn nghìn pháp môn (phương pháp, cách thức) phù hợp với 84.000 căn cơ nghiệp lực, hoàn cảnh của đối tượng, để lựa chọn pháp môn thích hợp trong giáo dục. Phương pháp giáo dục hiện đại của Thế học ngày nay cũng đề cập đến yêu cầu phân loại học sinh trong quá trình giáo dục và định hướng nghề nghiệp nhưng dường như nó chưa trở thành yêu cầu tự thân có tính thiết thực của người dạy, người học và dư luận xã hội. Hiện tượng học thêm phụ đạo tràn lan, “ngồi/học, đứng/dạy nhầm lớp” không phải là cá biệt, xu hướng chọn trường chọn nghề theo dư luận cảm tính có tính chất bầy đàn … đã tạo ra biết bao hậu quả bi hài của nền giáo dục nước nhà trong những năm gần đây là minh chứng rõ ràng của việc không chú ý đúng mức đến nguyên tắc “khế cơ” trong giáo dục.

Thứ hại, quan điểm giáo dục thức tỉnh tự thân qua lí luận và thực tiễn

Cốt lõi của mục tiêu giáo dục Phật giáo là khơi dậy, trưởng dưỡng trí tuệ tự thân của mỗi cá nhân, có năng lực tự tin và tự chịu trách nhiệm cá nhân trước bản thân và cộng đồng xã hội chứ không phải chỉ nhằm cung cấp kiến thức cho người học. Không cực đoan như Đạo gia chủ trương “vứt bỏ sách vở”, một mặt Phật giáo đề cao vai trò của người thầy của kinh điển sách vở đối với người học (ỷ tùng chi cát) nhưng mặt khác cũng nghiêm túc chỉ ra cái chướng ngại không nhỏ do kiến thức đưa lại (sở tri chướng) trên con đường giác ngộ. Quá trình giáo dục là sự thống nhất đồng thời của 3 thao tác: Văn - Tư - Tu (Văn là kiến thức được lĩnh hội, đưa từ bên ngoài vào; Tư là tự thân nhận thức; Tu là thực hành trải nghiệm, chuyển hoá kiến thức thành trí tuệ tự thân), chỉ có thứ trí tuệ đó mới đem lại cho con người nămg lực sáng tạo trong thực tiễn. Quan điểm biện chứng này phê phán triệt để thái độ chấp thủ, bảo thủ máy móc trong giáo dục. Trong kinh A-hàm Đức Phật đưa ra tỉ dụ cái bè, thể hiện rõ quan điểm giáo dục Phật giáo, phê phán chấp thủ, đề cao tinh thần “khế cơ” sáng tạo trong hoạt đọng thực tiễn: “Giáo lí như phiệt dụ giả. Chính pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (Giáo lí của ta ví như chiếc bè để đưa qua sông. Khi qua rồi phải bỏ bè lại chứ không phải khư khư ôm giữ đợi đến dịp dùng).

Thứ ba, quan điểm giáo tự chủ, độc lập

Phật giáo cho rằng, bằng trí tuệ và nỗ lực của riêng mình, con người có thể tự tin và tự giác ngộ giải thoát ngay chính trong cuộc đời này. Kết quả của giáo dục là phải xây dựng cho con người niềm tin và năng lực trí tuệ để đập vỡ mọi ách trói buộc nô lệ từ bên trong và bên ngoài, tạo nên tâm thế: “Vô tham” (biết và có khả năng tự kiềm chế dục vọng do lòng tham thôi thúc, là cội nguồn của tham nhũng và tệ nạn xã hội), “Vô sân” (tự dập tắt tâm thế nổi loạn, tranh giànhlộc vị của người khác một cách bất chinh), “Vô si” (mở rộng con đường vào trí tuệ, sáng tạo nên những giá trị văn hoá văn minh tốt đẹp cho mình và cho nhân loại).

Thứ tư, về môi trường giáo dục

Con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội, do vậy, môi trường giáo dục không chỉ là nhà trường, trong các buổi lên lớp mà còn phải quan tâm đến toàn diện môi trường sống của con người. Gần đây giáo dục Thế học hiện đại đã quan tâm tới mối quan hệ nhà trường - gia đình – và xã hội trong quá trình giáo dục nhưng từ ngàn xưa các bậc cổ đức đã nêu lên quan điểm giáo dục rất sâu sắc mà giản dị:

Thứ nhất là tu tại gia

Thứ nhì tu chợ, Thứ ba tu chùa

Một câu nói hình ảnh, có tính ước lệ, không phải theo thứ tự nhất, nhì, ba,  hay nhà, chợ, chùa, mà muốn nói lên tính tổng hợp hỗ tương trong quá trình giáo dục nhằm tạo ra sản phẩm là con người theo mục tiêu đã đề ra.

Phật giáo là một hệ thống tôn giáo - đạo dức - văn hoá - lối sống ra đời trước hết do con người và vì con người. Từ góc độ tiếp cận của giáo dục và giáo dục học, trải qua hơn 2500 năm nhìn lại, thiết nghĩ, những quan điểm về giáo dục của Phật giáo cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Nghiên cứu và vận dụng những quan điểm giáo dục Phật giáo là việc làm cần thiết và góp phần không nhỏ trong sự nghiệp giáo dục của nước nhà.

Danh ngôn về nghề dạy học [Nghề dạy học - nghề cao quý]


"Dưới ánh mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học ."
Comenxki

"Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn."
Uyliam Batơ Dit 

"Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng không thể nuôi dạy trẻ với chút ít nhiệt tình."
Can Jung 

"Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ."
Galileo 

"Nếu người kỹ sư vui mừng nhìn thấy cây cầu mà mình vừa mới xây xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa mình vừa mới trồng, thì người giáo viên vui khi nhìn thấy học sinh đang trưởng thành, lớn lên."
Gôlôbôlin 

"Một ông thầy mà không dạy cho học trò được việc ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi."
Horaceman

• “Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn.”
 Uyliam Batơ Dit

• “Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng không thể nuôi dạy trẻ với chút ít nhiệt tình.”
Can Jung



  “Giáo dục như ánh thái dương phản chiếu cả đến những gian nhà cỏ thấp bé, mái tranh của con nhà nghèo.”
 Pestalogi

  “Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác.”
 Usinxki

 “Đối với người giáo viên, cần phải có kiến thức, có hiểu biết sư phạm về quy luật xã hội, có khả năng dung lời nói để tác động đến tâm hồn học sinh. Có kỹ năng đặc sắc nhìn nhận con người và cảm thấy những rung động tinh tế nhất của trái tim con người.”  
Xukhomlinxki

  “Phải tôn kính thầy dạy mình, bởi lẽ nếu cha mẹ cho ta sự sống thì chính các thầy giáo cho ta phương cách sống đàng hoàng tử tế.”   
Philoxêne De Cythêrê

 “Nào ai có giỏi hơn con kiến, thế mà nó chẳng cần nói một lời nào.”  
Benjamin Franklin

 “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.”
Tục ngữ Việt Nam

 “Muốn sang thì bắc cầu kiều,muốn con hay chữ phải yêu kính thầy.”
Tục ngữ Việt Nam

 “Tôi dường như không phải là thầy giáo…và những con đường dẫn đến trái tim tuổi thơ sẽ bị đóng kín đối với tôi nếu tôi chỉ là người đứng trên bục giảng.”
V.A. Sukhomlinxki 

"Chúng ta không thể dạy bảo nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác ."
 Usinxki
"Dạy tức là học hai lần ."
G. Guibe

"Đem việc làm mà dạy người thì người ta theo; chỉ đem lời nói mà dạy người thì người ta không phục ."
Đệ Ngũ luận

"Đối với người giáo viên, cần phải có kiến thức, có hiểu biết sư phạm về quy luật xã hội, có khả năng dung lời nói để tác động đến tâm hồn học sinh. Có kỹ năng đặc sắc nhìn nhận con người và cảm thấy những rung động tinh tế nhất của trái tim con người ."  
Xukhomlinxki

"Nào ai có giỏi hơn con kiến, thế mà nó chẳng cần nói một lời nào ."
Benjamin Franklin

"Nếu người kỹ sư vui mừng nhìn thấy cây cầu mà mình vừa mới xây xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa mình vừa mới trồng, thì người giáo viên vui sướng khi nhìn thấy học sinh đang trưởng thành, lớn lên ."
Gôlôbôlin

"Người cha chính là người thầy đầu tiên của đứa trẻ ."
T. Thore

"Người thầy trung bình chỉ biết nói, Người thầy giỏi biết giải thích, Người thầy xuất chúng biết minh họa, Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng ."
 William A. Warrd

"Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn ."
Uyliam Batơ Dit

"Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác."
Usinxki

"Sự gương mẫu của người thầy giáo là tia sáng mặt trời thuận lợi nhất đối với sự phát triển tâm hồn non trẻ mà không có gì thay thế được ."
 Usinxki

"Thầy giáo là đường tinh, học sinh là đường đã lọc ."
Ngạn ngữ Ba Tư

"Tôi dường như không phải là thầy giáo…và những con đường dẫn đến trái tim tuổi thơ sẽ bị đóng kín đối với tôi nếu tôi chỉ là người đứng trên bục giảng ."
V.A. Sukhomlinxki

Có nên dạy con bằng roi vọt ?!!


Rèn giũa trẻ hay “thương” trẻ bằng roi vọt hay bằng những lời mắng chửi đều không phải là điều hay nhất. Điều các bậc phụ huynh nên làm lúc đó là nên bình tĩnh suy xét: “Mình cũng đã có lúc như vậy khi còn nhỏ...
Theo kết quả của khảo sát quy mô được sự phối hợp của Tổ chức Liên Hợp quốc tiến hành ở Việt Nam có tới 92% trẻ em bị cha mẹ đánh khi có lỗi. Chuyện đánh con để giáo dục, rèn giũa con đã trở thành quan niệm của nhiều bậc cha mẹ và cả những người xung quanh. Chính vì thế hàng xóm không can thiệp khi bố mẹ đánh con, không những thế, nhiều người quan niệm rằng trẻ hư thì phải đánh, không còn cách nào khác. 
Chị Mai cho biết: “Bé Việt Anh rất hiếu động, vì thế không ít lần gây ra lỗi, có lần đang làm việc thì “ông con” mải nghịch kéo cả một bình hoa đổ tung tóe ra sàn. Mảnh vỡ, nước lênh láng cả một góc nhà, một phần sợ con dẫm phải mảnh vỡ, một phần đang bận con lại bày thêm việc, sẵn cái thước kẻ trên bàn mình, chị đã đét cho cu cậu một cái rõ đau vào mông. Chị tâm sự: “Biết như vậy là không tốt cho con, biết rằng cháuchỉ vì mải nghịch không để ý xung quanh nên mới có hậu quả như vậy. Khi đánh con xong, mình rất thương con và tự mắng mình là không biết kiềm chế nhưng nhiều lúc nóng giận mình đã không kìm được cơn bực tức.” 


Chuyện của bé Mít nhà chị Hà (Tương Mai – HN) cũng là một ví dụ. Một lần đưa Mít về quê chơi với ông, ngay hôm đầu tiên về nhà khi nghe ông nói: “Hôm nay ông sẽ đãi bé Mít một bữa cháo lươn”. Ngay lập tức cô bé phản kháng: “Cháu chẳng làm gì sai mà ông lại cho cháu ăn lươn? Mà cháu chỉ ăn lươn nhỏ thôi đấy, cháu không ăn lươn to đâu!” .

Nghe Mít nói vậy cả nhà ngạc nhiên chỉ có mỗi chị Hà (mẹ của Mít) tủm tỉm cười. Khi nghe cháu nói vậy, ông bé Mít đã phải gặng hỏi mãi Mít mới nói “ăn lươn đau thật mà!” và mãi khi chị Hà giải thích mọi người mới vỡ lẽ ra tại sao Mít lại nói khi sai mới ăn lươn và chỉ thích ăn lươn nhỏ. Chung quy cũng vì Mít đã bị mẹ mẹ đét đít một lần do không nghe lời mẹ và còn nghịch bẩn.

“Hôm Mít phạm lỗi mình đã quất một roi vào mông con và nói: Nếu con còn hư sẽ lại được ăn lươn đấy, lần này là lươn nhỏ lần sau sẽ ăn lươn to hơn!, không ngờ bé vẫn nhớ. Đến nay thì bé đã biết lươn để ăn và lươn do ăn đòn khác nhau như thế nào rồi. Kể từ sau lần bị Mít “tố cáo” đến nay mình không bao giờ nóng giận nữa – Chị Hà cho biết – Mỗi khi giơ roi lên nhớ đến câu nói của bé Mít là mình lại nhủ thầm: Phải thật bình tĩnh, không nên nóng!”

Trong số 92% trẻ em bị đánh thì có tới 65% bị đánh đau. Bởi hầu hết các bậc cha mẹ quan niệm: “Trẻ con rất chóng quên nên phải đánh cho nhớ, đòn đau mới nhớ lâu”. Vì thế, đa số trẻ sau khi bị cha mẹ đánh thì rất đau buồn vì bị phạt oan ức hoặc quá đau về thể xác. Trên thế giới hàng năm có tới 6,8% trẻ em trong số bị đánh đập và sỉ nhục đã tự tử.

Có thể nói, có rất nhiều lý do để trẻ có thể bị đòn nhưng một trong những lý do oan ức nhất khi trẻ bị cha mẹ đánh đó là do nhỡ tay làm vỡ hay làm hỏng một vật dụng gì đó trong nhà. Hiện tượng này thường xảy ra ở nhiều gia đình Việt Nam. Thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước. Bé gái khi rửa bát đĩa, xà phòng trơn, lỡ tay làm rơi vỡ đĩa. Mẹ trong cơn nóng giận đã đánh ngay vào tay với ý nghĩ để bé “rút kinh nghiệm, lần sau không được hậu đậu như vậy”. Tuy nhiên khi bị đánh oan, tâm sinh lý trẻ rất dễ bị chấn động, có trẻ đã bỏ nhà đi bụi, có trẻ tuyệt thực mấy ngày hoặc thậm chí có trẻ còn tìm đến cái chết.

Rèn giũa trẻ hay “thương” trẻ bằng roi vọt hay bằng những lời mắng chửi đều không phải là điều hay nhất. Điều các bậc phụ huynh nên làm lúc đó là nên bình tĩnh suy xét: “Mình cũng đã có lúc như vậy khi còn nhỏ! Đó sẽ là “vật cản” để bạn không phạm sai lầm, nếu luôn tâm niệm ý nghĩ đó trong đầu mỗi khi định đánh mắng con, bạn sẽ tìm ra cho mình được một cách dạy con khác cách mà bạn định sử dụng. Yêu thương, dạy dỗ con bằng chính tình thương của mình mới làm con trẻ mau thuần phục và cũng luôn tin yêu bạn.

Nghệ thuật dạy học


Socrates đã đưa ra một nhận định sâu sắc và căn bản về bản chất của giảng dạy khi so sánh nghệ thuật giảng dạy với nghề bà đỡ đã có từ lâu đời. Cũng giống như bà đỡ giúp cho bà mẹ sinh con, người thầy giúp cho tâm trí [của học sinh] tự tìm ra ý tưởng, kiến thức, và sự hiểu biết. Khái niệm cơ bản ở đây là: giảng dạy là một nghệ thuật có vai trò giúp đỡ khiêm tốn mà thôi. Người thầy không sản xuất ra kiến thức hay nhồi nhét những tư tưởng vào tâm trí trống rỗng và thụ động của học sinh. Chính người học, chứ không phải người dạy, mới là người sản xuất đóng vai chính trong sự sản xuất kiến thức và ý tưởng.

Người xưa đã phân biệt những kỹ năng của y sĩ và nông gia với kỹ năng của người thợ đóng giày hay thợ xây nhà. Aristotle gọi nghề thuốc và nghề nông là những nghệ thuật hợp tác, bởi vì những nghề này phụ với thiên nhiên để đạt đến những kết quả mà thiên nhiên có thể tạo ra. Giày dép và nhà cửa không thể thành hình được nếu không có bàn tay của con người; nhưng cơ thể con người vẫn đạt được sự khỏe mạnh mà không cần đến y sĩ, cây cỏ và thú vật vẫn lớn được mà không cần có bàn tay của nông gia. Tay nghề của y sĩ và của nông gia chỉ giúp cho sức khỏe và sự tăng trưởng được chắc chắn và đều đặn mà thôi.

Giảng dạy, giống như làm ruộng và chữa bệnh, là một nghệ thuật hợp tác giúp cho thiên nhiên làm những điều "tự nhiên," và khi có sự hợp tác này thì kết quả sẽ tốt đẹp hơn. Chúng ta đã học được nhiều điều mà không có thầy nào dạy hết. Có những cá nhân kiệt xuất đã có được sự hiểu biết sâu rộng mà chỉ được đi học rất ít. Nhưng đối với đa số chúng ta, tiến trình học sẽ chắc chắn hơn, bớt nhọc nhằn hơn nếu được người thầy giúp đỡ. Sự hướng dẫn có phương pháp của thầy cô giúp cho việc học của ta - nhấn mạnh là của ta và do ta - dễ dàng và có hiệu quả hơn.

Giảng dạy có một khía cạnh căn bản nhưng lại không nằm trong hai nghệ thuật hợp tác thuận theo với bản chất của thiên nhiên. Đó là, giảng dạy luôn luôn liên quan đến một mối quan hệ giữa tâm trí của hai người. Thầy cô không chỉ là một quyền sách biết nói, một cái máy ghi và phát âm vô hồn, truyền tải thông tin đến một khán giả vô danh nào đó. Người thầy đối thoại với học sinh của mình. Cuộc đối thoại này khác xa một "cuộc nói chuyện," vì phần lớn những gì được giảng dạy là những điều được truyền đi một cách vô thức trong cuộc trao đổi giữa thầy và trò. Ta có thể có kiến thức từ bách khoa từ điển, từ những băng ghi âm, từ những chương trình truyền hình, nhưng không có được thành tố vô hình này, một thành tố luôn luôn hiện hữu trong mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò.

Đây là mối liên hệ hai chiều. Thầy trao và trò nhận sự giúp đỡ và hướng dẫn. Người đi học được gọi là "học trò" vì chấp nhận và đi theo "học khoa" do người thầy đề ra để rèn luyện tâm trí của mình. Điều này chẳng phải là một sự quy phục thụ động trước một quyền uy độc đoán, mà là sự chủ động thu nhận của người học trò về những điều hướng dẫn do người thầy đề ra. Một người học trò giỏi xem vai trò của người thầy cũng giống như vai trò của cha mẹ, là phương tiện để đi tới sự trưởng thành và độc lập của chính mình. Một người học trò ngỗ nghịch, từ khước sự giúp đỡ của người thầy, là tự làm hại lấy mình và làm phí phạm đi thời giờ học tập.

Nói một cách giản dị và theo nghĩa rộng nhất, người thầy chỉ cho học trò cách phân biệt, đánh giá, phán đoán, và nhận thức được đâu là sự thực. Người thầy không áp đặt một khối những tư tưởng hay giáo điều cứng nhắc và bắt học trò phải học thuộc lòng. Người thầy dạy cho học sinh của mình biết cách học và suy nghĩ do chính mình. Người thầy khuyến khích chứ không ngăn chặn những đáp ứng thông minh và có tính cách phê phán của học sinh.

Sự đáp ứng trước những điều hướng dẫn của người thầy và sự phát triển tâm trí của học trò chính là phần thưởng thích đáng duy nhất cho công sức yêu thương của người thầy. Giảng dạy là một nghệ thuật hợp tác và một thiên chức cao cả, được hiến dâng để làm tốt cho người. Đó là một hành vi cực kỳ độ lượng. Thánh Augustine gọi đó là hành động của lòng nhân đức vĩ đại nhất.

Mortimer J. Adler, Ph.D.

Nghệ thuật dạy học sinh cá biệt

Giáo dục HSCB là một nghệ thuật, nghệ thuật dạy trẻ. Thầy, cô đứng trên bục giảng phải đóng nhiều vai: Tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên, cả khán giả-tức học sinh ngồi nghe giảng trên lớp...

-Học sinh cá biệt (HSCB) là học sinh hư về đạo đức, lười nhác học tập, ví dụ như: Càn quấy, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thích “chơi trội” theo kiểu con nhà đại gia giàu có cụm lại với nhau đối lập với tập thể lớp. Họ thích ăn chơi phá phách hơn là học hành tử tế, kết quả học tập thất thường, sút kém, luôn xếp “đội sổ”, dẫn đến chán học.

HSCB, trường nào cũng có. HSCB không nhiều, song lại là “lực cản” rất lớn, thậm trí là thế lực “đen” đe dọa, khống chế những nhân tố tích cực dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải ở trong lớp, trong trường.

Cách dễ nhất, đỡ mất công sức, đã có thầy cô “áp dụng” là loại dần, một cách “hợp pháp” HSCB ra khỏi lớp để lớp “sạch”, dễ bề đạt danh hiệu “Lớp tốt” trong các phong trào thi đua.

Cần nâng cao vai trò của thầy cô, gia đình và xã hội nhằm giảm những học sinh cá biệt

Nhiệm vụ của trường học là “Dạy” và “ Dỗ”, giáo dục các em học sinh nên người, kể cả HSCB. Giáo dục HSCB là một thử thách, bản lĩnh, lòng vị tha của thầy, cô. Cải tạo học sinh hư thành con ngoan trò giỏi, công dân tốt, để xã hội bớt đi một người xấu chẳng phải đó là nhiệm vụ của thầy, cô giàu tình thương, hết lòng vì “Học sinh thân yêu” đó sao?

Một lớp học, xuất phát điểm có nhiều HSCB, hết năm học xóa hết “gánh nặng” cho lớp, cho trường, cho gia đình, công lao của thầy, cô được đền đáp. Vinh quang của nghề dạy học là ở chỗ đó, xã hội đánh giá nghề dạy học “nghề cao quý trong các nghề cao quý” nghề “ trồng người” cũng vì lẽ đó.

Nếu nói trường học, lớp học là một xã hội thu nhỏ, thì ngoài xã hội có loại cá biệt nào, trong trường học có loại cá biệt đó. Có học sinh mệnh danh là “Chí Phèo” vì tính cách ngang bướng, có học sinh được gán cho biệt danh “chầy cối”, bởi hay cãi “ ba bửa”, trọc cười gây rối trong lớp. Có học sinh lý lẽ theo kiểu “thắng lợi tinh thần”, học giỏi để làm gi? Cũng có học sinh đến lớp để vỗ ngực dương dương tự đắc “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba là… mỗ đây”.

Nghề dạy học vốn là nghề “sáng tạo trong các nghề sáng tạo”. Nói theo cách nói của thầy thuốc: Thầy phải “chẩn” đúng bệnh, dùng loại thuốc “đặc trị” phù hợp mới cứu được con “bệnh” cá biệt.

Đừng nghĩ HSCB, bộ mặt lúc nào cũng câng câng, bất cần đời là có “trái tim đá”. Dưới vẻ mặt lạnh lùng, vô cảm là sự hụt hẫng tình thương. Phải là những thầy cô giáo chủ nhiệm giàu kinh nghiệm, có cách đối nhân xử thế bao dung, vi tha, kiên nhẫn mới “phá” được “lô cốt” tưởng là “bất khả xâm phạm”, đem đến cho các em hơi ấm của tình người, để các em biết người tốt chung quanh ta, nhiều lắm!

Cha mẹ Hoàn chia tay nhau lúc Hoàn mới bi bô gọi được hai tiếng: Bà-ba. Hoàn ở với bà nội. Bà cưng chiều Hoàn, bù đắp, lo cho Hoàn đủ thứ. Nhưng sao, càng lớn càng xa lánh mọi người, đôi mắt lúc nào cũng đượm buồn. Những bạn bè vô tư vui chơi, bố mẹ đón đưa đi học, tổ chức sinh nhật với chiếc bánh gatô cao nhiều tầng, mặc những bộ quần áo “mốt” nhất, Hoàn có vẻ như “đội mũ phớt” không quan tâm.

Đêm về, đối diện với chính mình, Hoàn tủi thân, thèm được “chia sẻ” biết nhường nào. Thầy cô chủ nhiệm, người mẹ hiền nhậy cảm, tế nhị, biết thổi vào “trái tim cô đơn” ấy “một tình yêu bao la”, chắc chắn Hoàn sẽ hòa vào bạn bè. Tuổi trẻ bao giờ cũng sống bằng tình bạn hữu. Nhân ngày 26-3, thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, lớp tổ chức tọa đàm về “tình bạn, tình yêu”.

Hoàn nói: “Con đường từ trái tim đến với trái tim là gần nhất. Chính thầy cô chủ nhiệm, các bạn đã đến với tôi bằng trái tim yêu thương, giúp tôi thay đổi cách nhìn đời, nhìn người. Đáp lại tấm lòng thầy cô, đáp lại tấm lòng bạn bè, tôi xin hát bài “ Cuộc sống ơi! Ta mến yêu người”. Cả lớp vỗ tay hòa vào niềm vui chung của tập thể.

Giáo dục HSCB còn một yêu cầu quan trọng, thầy, cô phải giỏi nghề. Thầy, cô luôn cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy. Tiết sau “mới” hơn tiết trước. Sau một tiết học, trò học được nhiều tri thức bổ ích tạo nên sự đam mê học hỏi, khám phá tự tin, khẳng định mình.

Thầy, cô biết hỏi “gợi mở” mang tính “phát động”, nhất định sẽ nhận được câu trả lời độc đáo. Thầy hỏi: “Theo em cô Tấm có mặt nào tốt, mặt nào chưa tốt. Em thích Tấm ở đức tính gì?”. Trò mạnh dạn trả lời: “Em không thích nhân vật Tấm. Tấm chỉ sống dựa vào người khác.

Tấm cũng ác không kém gì mụ dì ghẻ. Tấm lừa giết Cám để trả thù. Tấm thật đáng sợ”. Ta khoan bình luận đúng sai. Em học sinh dám đưa ra một đánh giá riêng của mình. Cũng giống Phùng Quán phê phán câu ca dao cổ: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Hoa sen đẹp, lại có hương thơm, nhờ có “bùn”. Tại sao sen lại vô tình “không tanh mùi bùn”.

Thầy, cô biết “cuốn” học sinh vào trò chơi học tập, sẽ “lấp” thời gian “chết”, trò không “nhàn cư…” nghịch, đánh cờ ca rô, nhắn tin… ngay trong tiết học.

Giáo dục HSCB là một nghệ thuật, nghệ thuật dạy trẻ. Thầy, cô đứng trên bục giảng phải đóng nhiều vai: Tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên, cả khán giả-tức học sinh ngồi nghe giảng trên lớp. Làm thầy, nhưng phải hiểu trò đang nghĩ gì, làm gì trong giờ học. Bài giảng là một “món ăn”, nếu nhàm chán, học trò sẽ bỏ ăn-bỏ học.

+ Nghề dạy học - nghề cao quý



“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng câyVì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
(Trích lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi thăm và nói chuyện tại Đại hội lần thứ 3 của Đoàn thanh niên lao động Việt Nam 24/3/1961.
Từ xưa đến nay, bất kể trong thời kỳ nào người thầy giáo cũng được kính trọng, luôn được tôn quý, vị nể. Lúc sinh thời Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói : “ Nghề dạy học là nghề cao quý bậc nhất trong nghề cao quý. Nghề dạy học là một nghề sáng tạo vào bậc nhất trong các nghề sáng tạo, vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”
Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, thời kỳ hội nhập, đời sống về vật chất cũng như tinh thần đều được cải thiện và nâng lên một bước đáng kể. Kéo theo nó là sự thay đổi về nhận thức, cách nhìn nhận của cả những người trong nghề giáo lẫn người ngoài ngành về nghề này.
Vậy ý kiến của các đối tượng này như thế nào ?
Thầy giáo Lê Ngọc Điều đã có thâm niên trong nghề trên ba mươi năm, đến nay thầy giáo đã nghỉ hưu nhưng vẫn không quên những ngày còn đứng trên bục giảng.
Thầy Điều tâm sự : “Từ ngày tôi vinh dự được làm việc trong ngành giáo dục, và trực tiếp đứng trên bục giảng truyền đạt những kiến thức cho những học trò thân yêu, đến nay đã có hơn 30 năm làm thầy giáo. Muốn trở thành một nhà giáo chân chính, người thầy phải lao động thật nghiêm túc, không ngừng học tập nâng cao trình độ của mình và phải luôn luôn tu dưỡng đạo đức mới xứng đáng với vinh danh nhà giáo. Nhà giáo là một ngành cao quý trong những nghề cao quý. Từ xưa đến nay, bất kể là chế độ nào không thể không có nghề giáo, các cụ ta thường nói : “ Không thầy đố mày làm nên”
Thầy giáo vui vẻ đọc đoạn thơ :
“Thầy cô là những đoá hoa tươiDưới ánh nắng xuân đẹp tuyệt vờiVường hoa giáo dục rung rinh gióToả bao hương sắc đến muôn người”
Thầy nói tiếp : “ Khi mình đã là người thầy thì hết lòng vì học trò thân yêu, thầy đem hết tâm trí để dậy dỗ học sinh, tìm phương pháp tốt nhất, hay nhất để truyền đạt những kiến thức khoa học cho học sinh, đồng thời cũng dậy cho học sinh cách làm người”.
Đa số những ai đã lựa chọn nghề giáo là nơi gắn bó sự nghiệp cả đời đều có những tâm huyết với nghề, với trò. Trong cuộc sống của mỗi người giáo viên đều có những khó khăn, đối với những thầy giáo thế hệ trước sinh ra, lớn lên, sự nghiệp đều ở trong những hoàn cảnh đầy rẫy những lo toan cuộc sống, những vẫn khắc phục vượt qua để vươn tới những cái đẹp, đem lại cái đẹp cho cuộc đời.
Ngày nay, đến thế hệ nhà giáo trẻ được đào tạo tốt hơn, trong môi trường hiện đại hơn, có những nhà giáo trẻ cũng mong muốn được cống hiến sức trẻ như cha ông đã làm, nhưng cũng có người dường như không chịu được áp lực công việc, khó khăn của cuộc sống, xen lẫn những bon chen của cơ chế thị trường.
Một thầy giáo trẻ mới ra trường viết thư trên báo lao động điện tử tâm sự, mà đó là những tâm sự thực lòng :
“Tôi tốt nghiệp Đại học Sư phạm vào tháng 7/2007. Nhận nhiệm sở tại một trường THPT trên địa bàn tỉnh A vào tháng 9/2007, tôi háo hức muốn đem hết những gì mình đã học được ở giảng đường suốt 4 năm cống hiến cho xã hội. Thế nhưng, thực tế lại quá phũ phàng so với những gì chúng tôi nghĩ.
Điều đầu tiên tôi cảm thấy không công bằng đó là chúng tôi (những thầy cô giáo mới ra trường) chỉ lĩnh lương 85% so với mức lương chung của công nhân viên chức (?). Tôi không hiểu tại sao lại có sự bất công như thế? Chúng tôi cũng là những người được đào tạo chính quy, cũng soạn bài, giảng dạy như những giáo viên khác, cũng làm các công tác ngoài giờ, công tác chủ nhiệm, tham gia phong trào….
Thậm chí tôi còn cảm thấy mình làm nhiều việc hơn mấy đồng nghiệp khác nữa bởi vì chúng tôi là những người trẻ, trường luôn “ưu tiên” cho chúng tôi làm. Thế thì tại sao lại đối xử với chúng tôi thiếu công bằng như thế? Thú thật với các bạn, hiện giờ mỗi tháng tôi lãnh được 1.330.000 đồng. Với sự leo thang của vật giá thời gian gần đây thì số tiền này lo ăn trong suốt một tháng ròng muốn không đủ, làm sao dám nghĩ đến những nhu cầu khác.
Các bạn có biết không, đối với xã hội của chúng ta thì: Chất lượng, kết quả học tập của học sinh không tốt: Tại thầy; đạo đức học sinh xuống cấp, băng hoại: Tại thầy…
Ba mẹ tôi thỉnh thoảng vẫn an ủi “ráng đi con ơi, dù gì mình cũng may mắn được làm một cái nghề cao quý, được mọi người trong xã hội trân trọng”. Những lúc như thế tôi chỉ biết im lặng. Có lẽ, nghề giáo viên của chúng tôi là một nghề cao quý! Nhưng, trong cái xã hội phát triển như vũ bão hiện giờ, liệu có bao nhiêu người chấp nhận đói khổ chỉ vì cái hư danh??? ”
Làm nghề giáo đòi hỏi người đứng trên bục giảng phải có bản lĩnh, biết chịu đựng và vượt qua khó khăn trước mắt, đem hết sức mình cống hiến cho thế hệ tương lai của đất nước. Nghề nào cũng vậy, nhất là nghề giáo cần phải trải qua thử thách mới trở thành một nhà giáo có bản lĩnh, có tâm, có đức và có tài.

Trong lời một bài hát có câu : “…Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà tự hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc hôm nay..”

Ý kiến về vấn đề nêu trên, một phụ huynh học sinh đưa ra ý kiến của mình :
“Qua đọc bài lá thư của thầy giáo tôi thấy thầy cũng nên nhìn lại mình. Là một thầy giáo trẻ mới ra trường chưa cống hiến cho xã hội được bao nhiêu mà thầy đã đòi hỏi những điều mà hàng chục vạn giáo viên của cả nước từ xưa tới nay vẫn cống hiến mà họ chưa một lần đòi hỏi.
Xã hội đã tôn trọng gọi những người làm công tác giáo dục làm thầy vậy tại sao một ngưới thầy lại đi tính toán so bì những điều đó phải chăng nếu vì đồng tiền thì hãy theo đưổi một nghề khác cho phù hợp.

Xã hội đã gọi chữ thầy thì ngoài dạy kiến thức thầy còn phải dạy làm người như vậy đó là một vinh dự lớn chứ phải không thầy”.

Xong vẫn có những giáo viên trẻ không ngại khó khăn gian khổ, tất cả vì học sinh thân yêu ở những vùng sâu vùng xa đang ngóng chờ, sẵn sàng đến công tác tại những vùng xa xôi hẻo lánh, cống hiến sức trẻ cho nền giáo dục nước nhà.

Anh Thanh Tâm viết về công việc của mình như sau :
“Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có hai anh em trai, tôi là út, mẹ tôi là giáo viên mẫu giáo, bố tôi hồi còn trẻ cũng là giáo viên dạy văn. Có lẽ truyền thống gia đình phần nào đã củng cố, hình thành động cơ thúc đẩy tôi chọn nghề Sư phạm. Ra trường, tôi được phân công công tác về một trường THCS miền núi của tỉnh Quảng Ninh. Tôi rất vui mừng, phấn khởi và tự hào với cơ hội đạt được này của bản thân. Vì tuy không được công tác ở miền xuôi, vùng đô thị nhưng tôi còn may mắn hơn nhiều bạn tôi ra trường mấy năm rồi vẫn còn đang “đỏ mắt” chờ việc.
Lần đầu tiên xa nhà lập nghiệp, tôi mới thấy hết được khó khăn vất vả của nghề “gõ đầu trẻ”. Vì học sinh của tôi rất đặc biệt, đa số các em là người dân tộc Dao Thanh Phán, nói tiếng Kinh không sõi. Hàng ngày, tôi phải tranh thủ thời gian ngoài giờ lên lớp, đến từng thôn, bản gặp trưởng thôn, trưởng bản, làm quen, hoà mình vào cuộc sống và phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây để thuyết phục, vận động con em họ đến trường.

Bên cạnh đó, tôi còn phải thường xuyên đối mặt với cơn bão giá của biến động thị trường để lo cho từng khẩu phần ăn mặc hàng ngày với đồng lương quá khiêm tốn của một giáo viên tập sự; đối mặt với những trang giáo giáo án, bài giảng hàng ngày, do sự khác biệt về ngôn ngữ giữa tôi với học sinh người dân tộc thiểu số; đối mặt với những mối quan hệ với đồng nghiệp không phải lúc nào cũng “xuôi chèo mát mái”.

Trong khi đó, tôi còn như con chim mới “ra dàng” đang chập chững tập bay. Những kỹ năng sống như thế này tôi lại chưa được trang bị cho mình trong “túi càn khôn” trước khi vào đời. Bù lại, với sức trẻ và tấm bằng tốt nghiệp Cao Đẳng loại khá, lại được sự quan tâm động viên thường xuyên của ban giám hiệu nhà trường và tập thể giáo viên, dần dần tôi đã phần nào vơi đi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương. Tôi càng thêm yêu nghề, mến trẻ, lấy công việc làm niềm vui, tự bằng lòng với chính mình để củng cố niềm tin về một tương lai tốt đẹp hơn, đầy đủ, sung túc hơn.
Đó là những suy nghĩ giản dị, chân thành của tôi về nghề của tôi – “Nghề giáo viên là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý” như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “. Trích bài viết của Nguyễn Thanh Tâm tại Jobviet

Các thầy cô luôn cố gắng hết lòng nhằm giúp các em học sinh trở thành những con ngoan trò giỏi, thầy cô vui mừng khi các trò học tốt lễ phép. Nhưng cũng có đôi lúc trò cũng quên đi điều đơn giản nhất đó cũgn là người thầy đã dậy mình.

Thầy giáo trẻ Nguyễn Quốc Vỹ khoa cơ khí chế tạo Trường cao đẳng nghề Quy Nhơn tâm sự :
“Tôi vui khi những học sinh, sinh viên cũ khi gặp lại còn cuối đầu chào, nhưng cũng rất buồn khi học trò cũ đi trên hành lang đối diện với thầy mà cứ ngước mắt nhìn lên mặt trăng, mặt trời. Tôi tự nhủ, cũng có lẽ các em không thích tôi, các em không thích phương pháp tôi dạy, không thích những lần “la mắng” các em trên lớp khi đi học vẽ mà không chịu mua cây bút chì, giấy vẽ hay cục gôm” .

Nghề giáo là một nghề vinh quang, xong người thầy cũng hết sức vất vả, nhọc nhằn thức khuya dậy sớm. Thầy cô cũgn có gia đình, cũng có bao lo toàn cho cuộc sống gia đình mình, nhưng các thầy cô vẫn biết vượt qua được khó khăn đó để đến với những học sinh thân yêu. Các cô, các thầy chỉ có một mình phải chủ nhiêm vài chục học sinh, bảo ban, theo dõi, kèm cặp ngần ấy con người là quá mệt mỏi.

Chị Hồng Hoa một giáo viên tiểu học nói : “Tôi là một giáo viên tiểu học ra trường và làm việc được 4 năm. Số năm công tác đó không phải là con số đáng nói nhưng tôi đã được tiếp xúc và va chạm thực tế với cả 2 môi trường làm việc ở trường dân lập và trường công lập.
Trong suốt 4 năm công tác đó, tôi vẫn thường xuyên đọc sách, báo và theo dõi các bài viết của bạn đọc trên VnExpress.net. Tôi đặc biệt chú ý những bài viết liên quan đến ngành nghề của tôi. Và càng đọc tôi càng thấy buồn (thậm chí là đôi lúc thấy thất vọng) cho mình, cho đồng nghiệp và cho cả cái nghề cao quý mà tôi đã từng mơ ước từ ngày tôi còn là học sinh cấp 1.
Các anh chị có biết rằng, một tiết học của chúng tôi không được kéo dài quá 40 phút. Mà trong 40 phút ấy, cô giáo vừa phải truyền thụ kiến thức mới, vừa hướng dẫn các con làm bài vào vở ô li. Mà các con cấp 1, đặc biệt là lớp 1, 2, 3 viết bài rất chậm. Giáo viên chúng tôi phải rèn từng tí một, từ cách viết tên đề bài lùi vào mấy ô cho đẹp, rồi hết bài phải kẻ ngắn, kẻ chân bài,…
Các anh chị không thể biết được là các con mình còn nhỏ quá, đến việc cầm chiếc thước kẻ để kẻ cho thẳng cũng còn lúng túng. Mà lớp thì không phải chỉ có 5 đến 10 cháu. Ở các trường công lập đông học sinh, một lớp có đến 50 cháu, mà chúng tôi phải cố gắng làm sao hướng dẫn cho được phần đông cả lớp. Các con lại viết chậm nên rất nhiều con làm không kịp đủ lượng bài, không hoàn thành ngay trong tiết học đó. Nên chúng tôi phải lấn sang tiết học khác.
Tôi hy vọng, sau bài viết này, các vị phụ huynh cũng nhìn nhận lại một chút. Và tôi nghĩ, phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm nên có những sự trao đổi tâm tư nguyện vọng với nhau để hiểu nhau hơn, tránh việc đổ lỗi cho nhau: trách nhiệm thuộc về người này hay người kia.
Hai lực lượng nòng cốt trong cả quá trình giáo dục những mầm non của đất nước là phụ huynh và giáo viên. Nếu giữa hai lực lượng này luôn có sự trao đổi và hợp tác lẫn nhau, thay vì phê phán nhau, thì công cuộc “trồng người” của chúng ta mới hiệu quả và thành công được”.
Rất thông cảm cho nhưng vất vả đó một giáo viên đã nghỉ hưu nói :
“Tôi cũng là một giáo, vào nghề từ đầu những năm 60, dạy từ cấp 2 đến Đại học. Bây giờ nghỉ hưu, nhưng vẫn đang dạy kèm cho các cháu học sinh THCS. Lớp tôi dạy chỉ có dăm ba cháu, nhiều lắm là chục cháu. Cả đời làm giáo, tôi dám nói rằng mình chẳng thiếu gì kinh nghiệm giảng dạy và quản lý học sinh. Ấy vậy mà chỉ với dăm bảy học sinh nhưng đôi lúc tôi cũng cảm thấy bất lực vì các cháu thiếu tập trung học tập, không chịu làm theo hướng dẫn của thày, uốn nắn mãi cũng vẫn thế. Đấy là các cháu đã ở tuổi học sinh THCS.
Còn với các cháu Tiểu học thì khỏi phải nói. Tôi thực sự không hiểu nổi làm thế nào mà các cô giáo có thể dạy và quản lý được tới 40, thậm chí 50 học sinh lít nhít và non nớt đủ thứ.?”

Chị Kim Anh một phụ huynh học sinh có con học lớp một nói :
“Tôi rất hiểu là các thầy cô giáo ở trường đã vất vả như thế nào, tôi khâm phục và tôn trọng những thầy cô giáo hết mình vì nghề sư phạm. Nhưng vấn đề mà phụ huynh chúng tôi bức xúc, đó không phải là bản thân các thầy cô giáo không có trách nhiệm, mà là hệ thống giáo dục của chúng ta. Phụ huynh chúng tôi mong muốn con mình học giỏi, được điểm cao để đánh giá đúng khả năng và sự cố gắng của con về những kỹ năng và kiến thức phù hợp với lứa tuổi của nó. Vì vậy chỉ mong là khối lượng kỹ năng và kiến thức ấy phải được thiết kế phù hợp để các con có thể hấp thụ tốt, đồng thời vẫn có thời gian để phát triển kiến thức về xã hội, hội họa, âm nhạc, tham gia các hoạt động thể chất, chứ không phải cặm cụi tối ngày với khối lượng kiến thức, kỹ năng nặng quá mà mất cả ngày ở trường các con (cùng với sự nỗ lực hết mực của các thầy cô) vẫn không làm hết nổi phải mang về nhà làm tiếp “.

Trò muốn giỏi thì phải có thầy dậy dỗ, nhưng không phải tất cả đổ hết lên vai thầy, bố mẹ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình học tập của con. Sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình sẽ giúp giảm gánh nặng dậy và học của thầy trò. Góp phần giảm tải những gánh nặng lo lắng học tập trên vai học trò.

Đông đảo các thầy cô giáo yêu nghề, luôn làm việc với tinh thần :” Tất cả vì học sinh than yêu” không quản ngại mọi khó khăn gian khổ cống hiến cho nền giáo dục nước nhà. Xong không tránh khỏi có những trường hợp các biệt, có một số thầy cô giáo đánh mất cái danh hiệu mà phụ huynh dành tặng cho “cô giáo như mẹ hiền”, đây đó vẫn còn bạo hành trong học đường. Tuy không phải là tất cả nhưng “con sâu đã làm giầu nồi canh”, thời gian vừa qua đã xảy ra một số vụ việc cô giáo cho phép một cháu lấy thước kẻ vụt vào tay bạn nào viết chậm, hay tát vào miệng cháu nào nói chuyện, rồi giáo viên mầm non dùng băng keo dán mồm trẻ……

Ngay chính những giáo viên cùng trong ngành cũng không thể tưởng tưởng nổi những đông nghiệp của mình lại hành động như vậy với những đứa trẻ, mà chúng cũng như con họ ở nhà, hỏi thử khi con họ bị gười khác làm như vậy có cảm thấy đau lòng không !
Chị Hoàng Như Yến là một giáo viên ở Bình Định nói : Tôi cũng là một giáo viên mầm non, tôi rất hiểu và thông cảm với các cô giáo mầm non về nỗi vất vả và nghề nghiệp. Nhưng thật đáng tiếc… không có một lý do gì để bào chữa cho một hành vi đối với trẻ như thế. Mong rằng sau sự việc này, tôi cũng như các cô làm trong ngành nên nhìn lại thái độ cư xử của mình đối với trẻ để đem lại niềm tin cho các ông bà bố mẹ yên tâm gửi con đến trường”. – Trích thư của chị Yến gửi Vietnamnet.

“Trẻ em như búp trên cành” một thế hệ tương lai của đất nước, chỉ một lời nói hay hành động tốt có thể giúp trẻ phát triển tốt về thể chất cũng như trí tuệ, nhưng với một lời nói hay hành động tiêu cực của thầy cô cũng làm cho trẻ bị tổn thương về thể xác cũng như tâm lý của trẻ, nỗi ám ảnh trong cả một thời gian dài về hình ảnh không tốt về người thầy. Tuy chỉ là “con sâu làm giầu nồi canh” nhưng những vụ bạo hành học sinh xảy ra trong thời gian qua liên tục, ngay những nhà giáo có lương tâm cũng phải day dứt trước những hiện tượng này. Những giáo viên để xảy ra những sự việc này cần xem lại bản thân mình, trau dồi lại đạo đức và phẩm chất của người giáo viên, hãy đánh thức lương tâm của một nhà giáo vốn có trong mình đã bị đánh mất. Lấy lại hình ảnh tốt đẹp và cao quý của nghề giáo, lấy lại niềm tin yêu và kính trọng của cả xã hội. Hãy vì “Vì tường lai con em chúng ta”.
Lê Gia Phong

Nguyên tắc dạy học [Nội dung, phương pháp, mối quan hệ giữa các nguyên tắc]

Nguyên tắc dạy học [Nội dung, phương pháp, mối quan hệ giữa các nguyên tắc] * TỰ HỌC CNTT * SÁCH HAY Hành Trình Về Phương Đông ...